A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+

Tình yêu thương của Bác dành cho LLVT Thủ đô

QPTĐ-Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành cho Hà Nội những tình cảm đặc biệt, trong đó có lực lượng vũ trang Thủ đô. Người luôn dõi theo từng bước trưởng thành và kịp thời gửi thư khen ngợi, động viên mỗi khi lực lượng vũ trang Thủ đô lập công xuất sắc.

Với thắng lợi của Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ngày 19/8/1945, Hà Nội từ một thành phố thuộc địa, nơi tập trung của bộ máy cai trị thực dân Pháp và phát xít Nhật trở thành Thủ đô của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trung tâm đầu não chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự của chính quyền dân chủ nhân dân. Tuy nhiên, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa ra đời đã phải đối đầu với bao nhiêu khó khăn, thử thách, trong đó “thù trong, giặc ngoài” đã đe dọa trực tiếp đến sự sống còn của chính quyền cách mạng. Nhiệm vụ của LLVT Thủ đô lúc này là làm nòng cốt trong các phong trào “diệt giặc dốt”, “diệt giặc đói”, “diệt giặc ngoại xâm”, góp phần cùng quân, dân cả nước đưa cách mạng Việt Nam thoát khỏi tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Cùng với đó là trực tiếp làm nhiệm vụ canh gác, bảo vệ một số cơ quan của Trung ương, Xứ ủy và Thành phố.

Đặc biệt, Đội Tự vệ chiến đấu cứu quốc Hoàng Diệu còn được giao nhiệm vụ bảo vệ Bác Hồ và nơi làm việc bí mật của Người. Trong khoảng thời gian này, dù bận rộn với những công việc cấp bách, đặc biệt quan trọng liên quan đến vận mệnh của cả dân tộc nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn luôn quan tâm đến cán bộ, chiến sĩ LLVT Thủ đô. Trong vòng 2 tháng, Bác Hồ đến thăm Đội Tự vệ chiến đấu cứu quốc Hoàng Diệu hai lần. Lần đầu, cuối tháng 9 năm 1945, Bác đến thăm Đội tại trụ sở số 107 Trần Hưng Đạo. Bác không lên ngay hội trường mà đi thẳng xuống nhà ăn, nhà bếp và nhà vệ sinh. Khi lên hội trường, chân tình như cha con, Bác đề nghị mọi người nêu câu hỏi trước rồi Bác trả lời. Có ý kiến xin trừng trị bọn phản động, Bác nhắc nhở: “Giữ gìn độc lập như nâng chén ngọc. Khi nâng chén ngọc, có kiến đốt cũng phải ráng chịu vì buông tay thì chén ngọc sẽ vỡ”. Những lời nói giản dị mà rõ ràng, thấm vào tâm trí từng chiến sĩ Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu. Lần thứ 2, Bác đến thăm Phân đội nữ Minh Khai tại Trường Hàm Long. Bác căn dặn chị em: “Lúc này chúng ta phải thể hiện tư thế người làm chủ đất nước, các cháu là tự vệ đội thì đó còn là tư thế của người sẵn sàng chiến thắng kẻ thù. Trong lúc đất nước còn thù trong, giặc ngoài, phải nắm chắc tay súng, không được chủ quan trong lúc này”.

Trong lễ khai giảng khóa đầu tiên của Trường Huấn luyện cán bộ tự vệ Hồ Chí Minh-Tiền thân đầu tiên của Trường Quân sự Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội ngày nay, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến dự và căn dặn cán bộ, học viên: “…Bởi thế các đồng chí phải học tập thành cán bộ để đi trước sự bảo vệ: Bảo vệ nền độc lập, tự do của mình. Không những thế, các đồng chí còn chỉ huy những anh em đi sau. Tóm lại, không những phải học cho biết kỹ thuật, mà còn phải học lý luận về đạo đức, tinh thần nữa…”.

Cuối năm 1946, trong những ngày khẩn trương chuẩn bị bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến ở và làm việc tại ngôi nhà của ông Nguyễn Văn Dương ở làng Vạn Phúc, nay là phường Vạn Phúc, quận Hà Đông và viết Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến.  Đáp lại lời kêu gọi thiêng liêng của Người, vào 20 giờ ngày 19-12-1946, bằng những loạt đại bác từ Pháo đài Láng bắn vào các mục tiêu của địch trong Thành phố, quân và dân Thủ đô Hà Nội chính thức mở đầu cuộc kháng chiến chống Pháp với tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”.

Tết Đinh Hợi 1947, trong lúc cán bộ, chiến sĩ LLVT và nhân dân Thủ đô ăn Tết trong vòng vây của địch thì nhận được thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong thư Người viết: “...Các em là đội cảm tử. Các em cảm tử để cho Tổ quốc quyết sinh. Các em là đại biểu cái tinh thần tự tôn, tự lập của dân tộc ta mấy nghìn năm để lại, cái tinh thần quật cường đó đã kinh qua Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, truyền lại cho các em. Nay các em gan góc tiếp tục cái tinh thần bất diệt đó, để truyền lại cho nòi giống Việt Nam muôn đời về sau...”.

Ngày ngày, Người dõi theo nhịp thở của phong trào Hà Nội. Người đau nỗi đau của người dân phải sống trong vùng địch, mỗi tổn thất của cơ sở khi tan vỡ và vui với những chiến công ngày càng nở rộ. Tháng 11-1948, Người gửi thư cho đội du kích Thủ đô, nói rõ Hà Nội là vị trí rất quan trọng đối với thực dân Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược nước ta và chỉ rõ nhiệm vụ của bộ đội và du kích là phải đẩy mạnh những hoạt động quân sự làm suy yếu lực lượng địch để phối hợp chặt chẽ với các chiến trường của cả nước đánh giặc. Người viết: ''Hà Nội là quả tim quân sự chính trị và kinh tế của địch. Du kích Thủ đô và Vệ quốc quân cần phải thường quấy rối quả tim của địch cho đến ngày tổng phản công. Du kích Thủ đô đã oanh liệt lập công lần đầu. Tôi chắc rằng từ nay du kích Thủ đô sẽ lập công nhiều hơn nữa, to hơn nữa”.

Sơn Tây là địa bàn chiến lược, nối liền giữa vùng địch tạm chiếm và an toàn khu, vì vậy, địch thường xuyên tổ chức càn quét khốc liệt. Nhằm cản bước tiến của địch, quân dân Sơn Tây thực hiện “rào làng kháng chiến”, gây cho địch những tổn thất nặng nề. Đặc biệt, nữ du kích Bùi Thị Cúc, xã Ba Trại, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây (nay là huyện Ba Vì, Hà Nội) đã lập công xuất sắc, được Bác Hồ gửi thư khen ngợi. Trong thư, Bác viết: “Tôi thay mặt Chính phủ gửi lời khen ngợi dân quân du kích xã Ba Trại đã anh dũng diệt giặc trong trận 16-2-1949. Tôi đặc biệt khen ngợi cháu Cúc đã tiêu diệt được 8 tên giặc, để lập chiến công vẻ vang trong trận ấy. Tôi mong rằng, toàn thể nam nữ du kích trong tỉnh sẽ hăng hái thi đua diệt giặc lập công. Tôi sẽ có giải thưởng đặc biệt, gọi là giải thưởng “Chuẩn bị tổng phản công” cho chiến sĩ nào và đội du kích nào lập công to nhất từ nay đến cuối năm. Cháu Cúc cố gắng lên, để giật giải thưởng ấy. Bác thưởng cháu 1 chiếc khăn tay”. 

Năm 1951, trong trận Chợ Cháy, Trầm Lộng, bộ đội địa phương Hà Đông đã phối hợp với bộ đội chủ lực lập nhiều chiến công xuất sắc, phá tan 10 tiểu đoàn của địch hòng bao vây, tiêu diệt lực lượng ta. Biết được chiến công trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư khen ngợi và căn dặn: “Bác gửi lời thân ái khen các chú và khuyên các chú học tập kinh nghiệm trong trận vừa qua, ra sức củng cố lực lượng của mình, để tranh lấy thắng lợi mới to hơn nữa, nhiều hơn nữa”.

Năm 1965, bị thất bại nặng nề trên chiến trường miền Nam, đế quốc Mỹ mở cuộc “leo thang” chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân hòng đè bẹp ý chí quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của nhân dân ta. Ngày 14/12/1966, bộ đội không quân, cao xạ, tên lửa, dân quân tự vệ Hà Nội bắn rơi 8 máy bay địch, trong đó có chiếc thứ 1.600 bị bắn rơi trên miền Bắc. Ngày 15/12/1966, Bác Hồ đã gửi thư khen ngợi quân và dân Hà Nội. Bác viết: “Quân và dân Hà Nội càng đánh càng giỏi, đã bắn rơi chiếc máy bay Mỹ thứ 1.600 trên miền Bắc. Hà Nội vừa chiến đấu khá, vừa sản xuất khá, vừa giữ gìn trật tự, trị an tốt. Bác rất vui lòng thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ khen bộ đội, đồng bào và cán bộ Hà Nội và tặng Thủ đô lá cờ: Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”.

Và chỉ trong vòng 1 năm (từ tháng 12-1966 đến tháng 11-1967), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 4 lần viết thư khen quân và dân Thủ đô đã lập công xuất sắc, bắn rơi nhiều máy bay Mỹ trên bầu trời Hà Nội. Những lời khen của Người là nguồn động viên lớn để quân và dân Hà Nội cùng với lực lượng phòng không quốc gia quyết tâm đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ mà đỉnh cao là Chiến thắng Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không cuối năm 1972, buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Đức Minh

 

 

 


Nguồn: Báo Quốc phòng Thủ đô
Tổng số điểm của bài viết là: 60 trong 12 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Hướng dẫn tới bảo tàng
  • Taxi

    Hướng dẫn tới bảo tàng bằng Taxi 

  • Xe Bus

    Hướng dẫn tới bảo tàng bằng Xe bus 

  • Xe Máy

    Hướng dẫn tới bảo tàng bằng Xe máy

Thống kê
Lượt truy cập hiện tại : 1
Hôm nay : 1
Tháng 12 : 42
Năm 2021 : 6.338